Về Đông Dương, đắm say điệu ca trù
Từ Quốc lộ 12A rẽ vào con đường men theo đồng lúa xanh ngăn ngắt, làng Đông Dương (xã Quảng Trạch) hiện ra sau rừng trâm bầu với vẻ đẹp trầm mặc của một ngôi làng cổ có bề dày hình thành cách đây hàng trăm năm. Dù trải qua nhiều biến thiên thăng trầm của thời cuộc, vùng đất này vẫn luôn là một cái nôi lưu giữ nhiều di sản văn hóa dân gian vô cùng đặc sắc. Trong đó, nghệ thuật ca trù nổi lên như một viên ngọc quý, là kết tinh của trí tuệ, tâm hồn và đời sống tinh thần phong phú của người dân nơi đây.
Ca trù Việt Nam vốn là một loại hình nghệ thuật diễn xướng âm nhạc thính phòng mang tính bác học cao, tồn tại dưới rất nhiều danh xưng khác nhau tùy thuộc vào không gian và thời đại như: hát ả đào, hát cửa đình, hát cửa quyền, hát nhà trò, hát cô đầu… Theo các tư liệu lịch sử ghi chép lại, ca trù khởi nguồn từ lối hát Đào nương - một lối hát lấy giọng nữ làm trọng tâm, đã nhen nhóm xuất hiện trong đời sống người Việt từ lâu đời. Năm Thuận Thiên thứ 16 (1025) thời vua Lý Thái Tổ, triều đình chính thức định ra quy chế hát xướng, quy định con trai gọi là Quản giáp, con gái gọi là Ả đào (thường gọi là quản - đào). Trải qua các triều đại tiếp theo như thời Trần (1225 - 1400) và thời Lê Sơ thế kỷ XV, nghệ thuật âm nhạc có Quản giáp - Ả đào ngày càng thịnh hành, dần phát triển, hoàn thiện về kỹ thuật biểu diễn. Từ niên hiệu Hồng Đức (1470) đến niên hiệu Đức Nguyên (1675), những người hành nghề âm nhạc phải sinh hoạt trong một tổ chức mới gọi là ty giáo phường. Nghệ thuật trình diễn phục vụ cúng tế ấy là những canh hát thờ thần, sau này quen gọi là hát cửa đình[1]. Các chuyên gia nghiên cứu khẳng định rằng dựa trên bài thơ của Lê Đức Mao, có thể chắc chắn vào thế kỷ XV ca trù đã hiện diện trọn vẹn trong nền văn hóa Việt Nam.
Ca trù phát triển rực rỡ chủ yếu ở 5 không gian trình diễn chính: hát cửa đình (hát thờ), hát cửa quyền (hát cung đình hay hát Chúc hỗ), hát tại gia (hát nhà tơ), hát thi và hát ca quán (hát chơi). Mỗi không gian có một lối hát và cách thức trình diễn riêng[2], đòi hỏi sự khắt khe về mặt kỹ thuật trình diễn để người nghe có thể cảm nhận trọn vẹn từng nhịp phách, từng tiếng trống chầu, tiếng đàn đáy hòa quyện với giọng ca nương.
Theo nghiên cứu của Viện Âm nhạc Việt Nam, ca trù được cho là du nhập vào vùng đất Quảng Bình (cũ), nay là tỉnh Quảng Trị, từ cách đây khoảng 300 năm, theo bước chân di cư của những nghệ nhân và nông dân từ miền Bắc. Ca trù tại đây vẫn mang đậm những âm hưởng và đặc trưng cốt lõi của ca trù miền Bắc. Tuy nhiên, do người dân địa phương thường xuyên phải chống chọi với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, bão lụt và hạn hán, nên trong số các lối hát thì không gian hát chơi, hát đối đáp giữa các tài tử văn nhân ít có điều kiện phát triển. Thay vào đó, lối hát thờ vươn lên trở thành loại hình đặc sắc nhất, được nhân dân vô cùng coi trọng trong các dịp lễ hội tại đình làng. Họ cất lên tiếng hát để cầu xin thần linh ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, quốc thái dân an[3].
Chính nét văn hóa tín ngưỡng này đã tạo nên đặc trưng "hát đứng" cực kỳ hiếm thấy của ca trù làng Đông Dương. Các nghệ nhân của Câu lạc bộ Ca trù Đông Dương lý giải sự khác biệt này: Nếu ở ca trù miền Bắc, đào nương thường ngồi để hát và bộ phách gõ được đặt nằm, thì tại Đông Dương, các ca nương thường đứng nghiêm trang hát. Đào nương sử dụng hai thanh tre để gõ theo nhịp phách, kết hợp linh hoạt với các động tác như lắc sinh, múa cờ... Khi hát, đào nương mặc áo dài, vấn khăn tạo nên dấu ấn thị giác độc đáo.
Những nghệ nhân thế hệ tiền bối của CLB Ca trù Đông Dương khi mới thành lập (Ảnh chụp lại từ sách Tìm hiểu dân ca Quảng Bình của nhạc sĩ Dương Viết Chiến)
Các bậc cao niên tại làng Đông Dương cho biết nghệ thuật ca trù (xưa kia được nhân dân gọi mộc mạc là hát nhà trò) đã bám rễ ở đây hàng thế kỷ, đặc biệt được ưa chuộng trong các dịp lễ hội của làng, nhất là lễ hội rằm tháng giêng. Sự kết hợp hoàn hảo của nghệ thuật diễn xướng giữa giọng hát của ca nương, tiếng đàn đáy và tiếng trống chầu tạo nên không gian hát cửa đình đặc trưng và thiêng liêng.
Không gian diễn xướng linh thiêng và gắn bó máu thịt với ca trù Đông Dương chính là ngôi đình làng Đông Dương. Đình làng Đông Dương được xây dựng vào năm Đinh Sửu (1877), thờ đức Thành hoàng làng cùng các vị tổ có công lần lượt lập làng như các vị họ Phạm, Nguyễn, Ngô... Đình làm bằng gỗ, có hệ thống cột, kèo, xuyên theo kiến trúc đình làng Việt Nam. Xưa kia, đình bao gồm một quần thể hoàn chỉnh, bề thế: đình tiền, đình hậu, nhà thờ thánh, nhà thờ tổ, bình phong, trụ biểu, sân và thành bao quanh. Tại khoảng sân rêu phong của đình, biết bao thế hệ đào kép đã say sưa nhả chữ, buông tiếng đàn đáy réo rắt quyện vào tiếng trống chầu điểm nhịp làm say đắm lòng người. Đặc biệt, đình làng không chỉ là trung tâm sinh hoạt văn hóa mà còn là nơi cất giấu tài liệu, vũ khí, nơi đóng quân và tổ chức các hội nghị bí mật, quan trọng của các tổ chức, các cơ sở Đảng ở địa phương trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Mặc dù từng bị thực dân Pháp điên cuồng càn quét và thiêu rụi nhiều phần vào năm 1947, ngôi đình nay đã được phục hồi và tôn tạo lại khang trang, tiếp tục là không gian chắp cánh cho điệu hát ca trù bay xa.
Trong suốt những năm tháng khói lửa đạn bom ác liệt, nghệ thuật ca trù vẫn được người dân Đông Dương bền bỉ lưu giữ và trao truyền. Tuy nhiên, do những tác động của chiến tranh, đã có lúc ca trù Đông Dương gần như rơi vào tình trạng đứt gãy, nhiều tư liệu, nhạc cụ bị lưu lạc. Từ đầu thập niên 90, các cụ cao tuổi trong làng đã tự nguyện tìm kiếm, sưu tầm và gom góp lại được nhiều bài hát cổ. Năm 1999, Câu lạc bộ Ca trù làng Đông Dương được thành lập, đánh dấu sự hồi sinh ngoạn mục của loại hình nghệ thuật diễn xướng độc đáo này ở Đông Dương. Khởi đầu đầy khó khăn chỉ với 6 thành viên đầy tâm huyết như nhạc công Hồ Xuân Thể, cụ bà Phạm Thị Thứu (nay đã mất)…, Câu lạc bộ Ca trù làng Đông Dương ngày càng thu hút thêm nhiều thành viên từ bậc cao tuổi thượng thọ cho đến các em thiếu niên; có đầy đủ kép, chầu và đào nương. Các nghệ nhân tài hoa đã sưu tầm hàng trăm bài hát và thành thạo hàng chục làn điệu cổ như: hát mở, dâng rượu, dâng hương, múa cờ, múa khế, hát hãm, hát nam, hát phú, luyện sơn trang… Tiếng đàn đáy hơn trăm năm tuổi của gia đình nghệ nhân Hồ Xuân Thể vẫn tiếp tục buông những thanh âm trầm bổng, mộc mạc mà thâm thúy.
Điều đáng trân trọng nhất là quá trình tiếp lửa và truyền dạy cho các thế hệ trẻ được diễn ra bài bản. Các nghệ nhân đã tích cực phối hợp cùng ngành Văn hóa, các trường học để truyền nghề cho hàng trăm học sinh có chung niềm đam mê trên địa bàn. Quá trình luyện tập khá khắt khe, các ca nương nhí phải thuần thục nhịp, phách và lời bài hát trước khi được phép ráp với tiếng đàn đáy. Với sự tận tâm chỉ dạy của các nghệ nhân, những ca nương nhí dù ban đầu gặp khó khăn với những làn điệu ngân cao, nhưng qua rèn luyện đã ngày càng yêu thích và quyết tâm hát hay hơn, nay đã tự tin biểu diễn ca trù. Sự tham gia tích cực của lớp trẻ đã giúp đội ngũ đào kép được trẻ hóa, lan tỏa khao khát tiếp nối, giữ gìn tài sản vô giá của quê hương.
Ca trù Đông Dương không chỉ thu hút bởi giai điệu mà còn làm say đắm lòng người qua nội dung ca từ sâu sắc. Bên cạnh những lời ca lãng mạn, bóng bẩy mang đậm triết lý nhân sinh của các nhà Nho xưa như: "Tiếc xuân ngoảnh lại trông xuân / Thương ôi bóng đã vân vân xế chiều / Duyên nổi phận bèo / Lênh đênh duyên nổi phận bèo...", ca trù hiện đại còn là tấm gương phản chiếu tinh thần thời đại, bày tỏ lòng tri ân, kính ngưỡng các bậc tiền nhân, ca ngợi non sông, vẻ đẹp quê hương, đất nước hay những khúc hát khuyên răn đạo lý chứa chan tình người. Những giai điệu đó đã nuôi dưỡng tâm hồn, khiến nghệ thuật ca trù trở thành món ăn tinh thần thiết yếu, một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian thực sự gắn bó máu thịt với người dân vùng cát trắng Đông Dương. Từ tình yêu quê hương cháy bỏng, các nghệ nhân Câu lạc bộ dù khó khăn vẫn nhiệt huyết tận hiến, tận dụng mọi lúc rảnh rỗi để miệt mài tập huấn, biểu diễn phục vụ bà con.
Năm 2009, nghệ thuật ca trù của Việt Nam - trong đó có ca trù Quảng Bình (cũ) nay là Quảng Trị - đã được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Cấp ủy, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh đã và đang đẩy mạnh những giải pháp quyết liệt để bảo vệ và phát huy mạnh mẽ hơn nữa giá trị nghệ thuật diễn xướng đặc sắc này; góp phần khích lệ những người thực hành nghệ thuật cũng như quảng bá hình ảnh quê hương, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Trải qua bao lớp bụi mờ của thời gian, ca trù làng Đông Dương vẫn kiêu hãnh tồn tại, vẹn nguyên sức sống mãnh liệt hòa cùng mạch nguồn văn hóa dân tộc. Tiếng “nảy hạt” của ca nương, tiếng tơ chùng của đàn đáy và những nhịp trống chầu “khắc” vội nơi sân đình cổ kính sẽ tiếp tục vang vọng, gợi thương, gợi nhớ, gợi hồn quê bảng lảng từ xa xưa cho đến bây giờ.